Hạch toán vốn tự nhiên là quá trình tính toán tổng trữ lượng và dòng chảy tài nguyên thiên nhiên và các dịch vụ trong một hệ sinh thái hay một vùng cụ thể. Đây là phương pháp luận tạo điều kiện cho các chính phủ, tập đoàn, tổ chức đo lường tác động và sự phụ thuộc của môi trường lên vốn tự nhiên để thúc đẩy quá trinh ra quyết định nhằm đạt được các kết quả kinh tế và xã hội tốt hơn. Báo cáo năm 2013[1] của Sáng kiến “Kinh tế hệ sinh thái và đa dạng sinh học” (TEEB) ước tính giá trị của các ngoại tác môi trường (thiệt hại từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm, bảo tồn đất và suy thoái tài nguyên thiên nhiên) là 7,3 tỉ US$ hàng năm.
Vào năm 2012, Ủy ban Thống kê Liên Hợp Quốc (UNSC) đã thông qua Hệ thống tài khoản môi trường và kinh tế (SEEA), chứa đựng các thuật ngữ, định nghĩa, phân loại, nguyên tắc hạch toán tiêu chuẩn quốc tế và bảng xây dựng số liệu thống kê có khả năng so sánh quốc tế về môi trường và mối quan hệ với nền kinh tế. Khung Hệ thống hạch toán kinh tế môi trường theo sau một cấu trúc hạch toán tương tự như Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) để thúc đẩy lồng ghép thống kê môi trường và kinh tế. SEEA bao gồm tài khoản tài sản và dòng chảy, cả tiền tệ và vật lý. Nhiều nước muốn mở rộng phạm vi hạch toán vốn tự nhiên vượt ra ngoài các loại tài nguyên vật chất đã được SEEA công nhận để bao gồm các dịch vụ hệ sinh thái và các tài nguyên thiên nhiên khác không trao đổi hay mua bán được và do đó khó đo lường hơn. Việc này được nhiều chương trình toàn cầu, khu vực và quốc gia khác nhau hỗ trợ.
[1] “Rủi ro của vốn tự nhiên: 100 ngoại tác kinh doanh hàng đầu”, do TRUCOST xây dựng